|
1.
|
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DẦU GẠO TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI
- Số tạp chí: Tạp chí KHCN Số 23
- Tác giả: Nguyễn Thị Minh Tú, Hoàng Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Hiền
- Từ khóa: Dầu gạo, gamma oryzanol, tocotrienols.
-
Tóm tắt
Hiện nay dầu gạo (dầu cám gạo) đã xuất hiện phổ biến trên thị trường Việt Nam, tuy nhiên không có nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá chất lượng dầu gạo so với các loại dầu thực vật khác. Trong bài báo này đã phân tích và đánh giá các chỉ tiêu hóa, lý, thành phần hóa học cơ bản... của một số loại dầu thực vật trên cơ sở thành phần chính để phân nhóm dầu gạo và 27 loại dầu thực vật khác trên thị trường Hà Nội. Profile chỉ số hóa lý của dầu gao tương đối tương đồng với dầu đậu nành, hướng dương và dầu lạc. Dầu gạo và các dầu thực vật khác đều có thành phần PUFAs chiếm ưu thế trong các acid béo, với các acid linoleic (LA, C18:2, n-6); có sự phân nhóm về thành phần chính, trong đó dầu gạo khác biệt bởi 0,24 (g/100g) gamma-Oryzanol, dầu đậu nành, dầu mè, dầu cải khác biệt bởi ω6 acid béo, dầu cải và dầu lạc khác biệt bởi ω3, ω9, UFA/SFA, trong khi dầu cọ khác biệt bởi SFA.
|
|
2.
|
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP MÀNG CHITOSAN/ POLYVINYL ALCOHOL(CS/PVA) VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÂN TÁCH HỖN HỢP ETHANOL/NƯỚC CỦA MÀNG
- Số tạp chí: Tạp chí KHCN Số 23
- Tác giả: Trương Thị Thủy
- Từ khóa: Màng sinh học, chitosan, polyvinyl alcohol, phân tách màng, liên kết ngang.
-
Tóm tắt
Màng sinh học CS/PVA được tổng hợp từ Chitosan (CS) và Polyvinyl alcohol (PVA) cùng chất liên kết ngang glutaradehyde dùng để phân tách hỗn hợp ethanol/nước. Kết quả khảo sát thấy rằng màng CS/PVA với tỷ lệ CS/PVA là 50/50 cho kết quả phân tách ethanol/nước tốt nhất với hệ số phân tách là α = 178,42, tốc độ thấm qua màng đạt được là P = 2,980 (L/m2giờ). Khi nồng độ ethanol có trong dung dịch đầu vào tăng dần thì khả năng trương nở của màng giảm dẫn đến khả năng thấm chọn lọc và tốc độ thấm của hỗn hợp qua màng cũng tăng theo. Màng CS/PVA-50/50 có độ bền cơ học cao và có khả năng tách nước ra khỏi hỗn hợp ethanol/nước.
|
|
3.
|
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO ĐÈN LED TÍCH ĐIỆN KẾT HỢP PIN MẶT TRỜI ỨNG DỤNG CHO VÙNG SÂU VÀ BIỂN ĐẢO
- Số tạp chí: Tạp chí KHCN Số 23
- Tác giả: Mai Hữu Thuấn, Đoàn Quang Trung, Nguyễn Thị Hồng Phượng
- Từ khóa: LED, tích điện, pin mặt trời.
-
Tóm tắt
Công nghệ chiếu sáng và thiết bị chiếu sáng ngày càng được cải tiến để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Việt Nam là một quốc gia có 4.550 km đường biên giới trên đất liền, và khoảng 1 triệu km2 diện tích biển với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ. Đèn LED được đưa vào thiết kế, sản xuất và đưa vào sử dụng tại các khu vực vùng sâu và biển đảo chưa được quan tâm phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở các sản phẩm đã có trên thị trường, nhóm nghiên cứu thực hiện thiết kế và chế tạo đèn LED tích điện sử dụng hệ pin mặt trời có ưu điểm tự cung, tự cấp năng lượng,dễ dàng lắp đặt, tuổi thọ cao, kiểu dáng đa dạng. Sản phẩm được thiết kế với các thông số kỹ thuật như các đèn dân dụng: búp tròn, tuýp, sân vườn,… (công suất từ 7 W đến 30 W). Đây là loại đèn rất có triển vọng ứng dụng.
|
|
4.
|
ĐÁNH GIÁ SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI (Cu, Fe, Mn, Pb và Zn) TRONG THỨC ĂN VÀ CHẤT THẢI TỪ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN
- Số tạp chí: Tạp chí KHCN Số 22
- Tác giả: Đoàn Văn Hưởng, Đỗ Quang Trung, Nguyễn Thị Nhâm, Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Ngọc Khánh
- Từ khóa: Chất thải chăn nuôi, kim loại nặng, Cu, Zn, Fe, Mn, Cd, Pb.
-
Tóm tắt
Trong bài báo này, sự hiện diện của một số kim loại có trong các mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt, nước giếng khoan sử dụng làm nước uống cho lợn và vệ sinh chuồng trại mẫu, mẫu phân lợn, bùn sau biogas đã được phân tích và đánh giá. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các kim loại Pb và Cd không có mặt, trong khi đó hàm lượng Cu cao trong giai đoạn 1 và 4 (230-231 mg/kg), hàm lượng Zn trong giai đoạn 3 và 4 cao (233-252 mg/kg), Fe thay đổi không đáng kể (238-284 mg/kg) trong các mẫu thức ăn. Hàm lượng kim loại trong nguồn nước uống cho lợn và vệ sinh chuồng trại không đáng kể trừ Fe và Mn. Phân tích mối tương quan giữa hàm lượng kim loại trong thức ăn và chất thải trong các giai đoạn cho thấy Fe có hàm lượng cao nhất (948,73-981,68 mg/kg), tiếp theo là Zn (918,31-896,10 mg/kg); Mn (656,91-721,03 mg/kg); Cu (586,22-643,89 mg/kg) và Pb (0,74-1,23 mg/kg). Bên cạnh đó, mẫu bùn thải sau biogas có hàm lượng kim loại tăng lên đáng kể (hàm lượng Cu cao gấp 1,58 lần; Fe cao gấp 3,38 lần; Mn gấp 1,66 lần và Zn gấp 3,35 lần) so với mẫu phân thải trước khi đi vào hầm biogas. Kết quả này cho thấy có sự tích lũy các kim loại trong bùn thải sau biogas, do đó cần có những biện pháp loại bỏ trước khi tái sử dụng trong trồng trọt.
|